Gan và chức năng gan

 Đăng bởi: Mega3 hhls 05/04/2020

VÀI YẾU TỐ & QUAN ÐIỂM CHÍNH

  • Gan là cơ quan lớn nhất trong cơ thể (nếu không kể da).
  • Gan nằm bên tay phải, dưới lồng ngực phải.
  • Gan đóng nhiều vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo trì sức khỏe của chúng ta.
  • Gan là cơ quan chính để thanh lọc độc tố.
  • Gan là cơ quan quan trọng nhất trong việc chuyển hóa thức ăn và dự trữ nhiên liệu dưới nhiều dạng khác nhau.
  • Gan là cơ quan chính bào chế một số chất đạm, chất mật, chất acid mỡ, v.v.

I. GAN

Gan là cơ quan lớn thứ hai trong cơ thể (sau da). Gan đóng nhiều vai trò quan trọng khác nhau trong việc bảo tồn sức khỏe của chúng ta. Tùy theo kích thước và trọng lượng của mỗi cá nhân, gan có sức nặng từ 1.100 đến 1.800 gram. Gan phụ nữ nhỏ hơn gan đàn ông. Gan nằm dưới lồng ngực phải, cách phổi bởi hoành cách mô (diaphram). Theo truyền thống, gan vẫn được chia thành 2 thùy chính (lobes), thùy phải và thùy trái, dựa theo vị trí của dây chằng liềm (falciform ligament). Dây chằng này nối liền gan với hoành cách mô và thành bụng trước. Tuy nhiên, sự phân chia này không tương ứng với cơ cấu của lá gan, nên ngày nay, người ta chia lá gan thành 8 khúc (segment) dựa vào những phân phối của mạch máu. 

          Gan được bao bọc chung quanh bởi vỏ bên ngoài chứa đựng nhiều dây thần kinh, tên là Gibson's Capsule. Với một cơ cấu và hệ mạch phức tạp, gan được xem là một cơ quan kỳ diệu (wonder organ). Tuy thế, tế bào gan không có dây thần kinh cảm giác, nên nếu bị tổn thương, bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào cả. Chỉ trừ trong trường hợp, khi gan bị "sưng phồng" lên, vỏ Gibson sẽ bị kéo căng ra, gây ra những cơn đau "tưng tức" hoặc khó chịu ở vùng bụng trên nằm bên phải, giáp giới với lồng ngực dưới. Ðây là một số trường hợp của viêm gan cấp tính hoặc khi lá gan "sưng lớn" vì bị suy tim bên phải (right heart failure). Gan được che chở và bảo vệ bởi xương sườn, nên nếu trong trường hợp bị té ngã hoặc tai nạn, sẽ đỡ bị dập nát hơn những cơ quan khác trong bụng như tụy tạng, lá lách, v.v.

Gan là cơ quan duy nhất trong cơ thể cùng một lúc tiếp nhận máu từ 2 nguồn khác nhau: 30% từ tim và 70% từ tĩnh mạch cửa (portal vein). Máu từ tim với các dưỡng khí và nhiên liệu sẽ nuôi dưỡng các tế bào gan. Máu đến từ tĩnh mạch cửa nhận máu từ những cơ quan như bao tử (stomach), lá lách (spleen), tụy tạng (pancreas), túi mật (gallbladder), ruột non (small intestine), ruột già (colon), cũng như các cơ quan khác nhau trong bụng. Vì gan là cơ quan đầu tiên, tiếp nhận các chất dinh dưỡng và hóa tố khác nhau hấp thụ từ hệ thống tiêu hóa, gan đã trở thành "nhà máy lọc máu" chính và quan trọng nhất trong cơ thể. Thức ăn và tất cả các nhiên liệu, vì thế, sẽ phải đi qua gan trước để được thanh lọc và biến chế thành những vật liệu khác nhau. Ðây cũng là nguyên nhân chính mà ung thư từ nhiều cơ quan và bộ phận khác có thể lan sang gan một cách dễ dàng.

II. CHỨC NĂNG CỦA GAN

CHUYỂN HÓA NHIÊN LIỆU

Một trong những nhiệm vụ chính của gan là cung cấp cho cơ thể một nguồn năng lượng liên tục, ngày cũng như đêm, no cũng như đói. Thực phẩm hấp thụ từ hệ thống tiêu hóa, sẽ được gan biến chế và chuyển hóa thành nhiều thể loại rồi được dự trữ dưới nhiều hình thức khác nhau. Các nhiên liệu dự trữ này sẽ được mang ra dùng trong lúc chúng ta không ăn uống hoặc nhịn đói. Ðây là quá trình rất phức tạp và lệ thuộc vào nhiều cơ quan khác nhau như tuyến giáp trạng (thyroid glands), tuyến tụy tạng (pancreas), tuyến thượng thận (adrenal glands), cũng như hệ thống thần kinh (parasympathetic & sympathetic systems), v.v.

     1) CHUYỂN HÓA CHẤT ÐƯỜNG: Ðường là nguồn năng lượng chính cho óc, hồng huyết cầu, bắp thịt và thận. Khi sự cung cấp nhiên liệu và thức ăn từ hệ thống tiêu hóa bị gián đoạn, sự sống còn của các tế bào và cơ quan kể trên sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào gan. Trong thời gian "nhịn ăn" này, gan là cơ quan chính chế tạo và cung cấp chất đường cho cơ thể, nhất là cho óc. Khi gan bị chai, khả năng biến hóa chất đường bị tổn thương dễ đưa đến sự thăng giảm thất thường của chất đường trong máu.

Ðường trong thức ăn nằm dưới nhiều dạng khác nhau: đường đơn (monosaccharide), đường đôi (disaccharide), và tinh bột. Từ hệ thống tiêu hóa, đường đơn được hấp thụ thẳng vào máu và có thể được tiêu thụ ngay lập tức mà không cần phải biến chế hoặc thay đổi. Ðường trong đa số các loại thực phẩm và trái cây thường nằm dưới dạng đường đôi. Một trường hợp ngoại lệ là nho, một loại trái cây chứa đựng nhiều glucose (một loại đường đơn) nhất.  Ðường đôi như lactose (đến từ sữa), sucrose (đến từ các loại đường mía, đường củ cải cũng như đa số các loại trái cây) cần phải được tách ra thành đường đơn trước khi được hấp thụ. Nhiều người Việt Nam, vì thiếu phân hóa tố lactase, nên không thể tiêu hóa được chất sữa (lactose intolerance). Những người này thường bị sình bụng, đau quặn bụng hoặc tiêu chảy sau mỗi lần uống sữa hoặc tiêu thụ các sản phẩm pha chế từ sữa như bơ, cheese, v.v.

Tinh bột (starch) cũng là một dạng tồn trữ chất đường trong nhiều loại thực vật khác nhau như gạo, mì, khoai, v.v. Khi chúng ta ăn cơm, tinh bột từ gạo sẽ được chuyển hóa thành nhiều đơn vị đường khác nhau. Vì thế, khi tiêu thụ thức ăn với nhiều tinh bột, chất đường trong máu của chúng ta sẽ tăng lên chậm chạp hơn, so với trường hợp nếu chúng ta uống một ly nước nho với toàn là đường đơn.

     2)  SẢN XUẤT VÀ CHUYỂN HÓA CHẤT ACID BÉO (Fatty Acid) và MỠ (lipids): Acid béo là một trong những nguồn năng lượng quan trọng nhất được dự trữ trong cơ thể chúng ta và cũng là thành phần cơ bản của nhiều loại mỡ (lipids) quan trọng, kể cả chất triglyceride. Các loại mỡ này có thể được so sánh như những viên gạch của một căn nhà. Vì thế, khi gan bị tổn thương, "nhà" sẽ bị rạn nứt, dễ đổ vỡ.  Gan cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp thu và biến chế các chất mỡ và cholesterol đến từ thức ăn thành những chất đạm mỡ (lipoproteins). Những chất mỡ này không những chỉ là những nguồn nguyên liệu quý báu khi đói, mà còn là những thành phần cơ bản của nhiều chất hóa học và kích thích tố khác nhau. Sự điều chỉnh các chất mỡ này là một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể chúng ta trước nhiều bệnh tật. Chất mỡ và cholesterol được tìm thấy nhiều nhất ở các loại thịt mỡ, thịt nâu (dark meat), một số đồ biển như tôm, cua v.v.

     3)  BÀO CHẾ & THOÁI BIẾN CHẤT ÐẠM (Protein Synthesis & Degradation): Gan là cơ quan chính trong việc bào chế và thoái biến chất đạm. Mỗi ngày gan bào chế khoảng 12g chất albumin, một trong những chất đạm quan trọng nhất trong cơ thể. Ngoài nhiệm vụ duy trì áp suất thể tích (oncotic pressure), chất albumin này là những "xe vận tải" chuyên chở nhiều chất hóa học khác nhau. Khi gan bị chai, chất albumin giảm dần, dễ đưa đến phù thủng (edema).   Ngoài ra, gan là cơ quan chính bào chế những yếu tố đông máu (clotting factors). Khi gan bị viêm lâu năm, sự đông đặc của máu trở nên khó khăn, người bệnh dễ bị chảy máu. Hơn nữa, khi thiếu chất đạm, bệnh nhân viêm gan sẽ dễ bị nhiễm trùng và các vết thương sẽ khó lành hơn.

     4)  THANH LỌC ÐỘC TỐ

Gan và thận là hai cơ quan chính trong cơ thể có khả năng loại bỏ các độc tố. Những độc tố dễ-tan-trong-nước (water-soluble) sẽ được loại qua thận. Những độc tố tan-trong-mỡ (lipid-soluble), sẽ được biến chế bởi những tế bào gan thành những chất kém nguy hiểm hơn, hoặc dễ hòa tan trong nước hơn. Khi gan bị chai, những độc tố sẽ ứ đọng lại trong cơ thể.

     5)  TỔNG HỢP CHẤT MẬT

Chất mật (bile) sau khi được chế tạo trong tế bào gan, sẽ được cô đọng và dự trữ trong túi mật. Sau mỗi bữa cơm, chất mật sẽ theo ống dẫn mật đi xuống tá tràng, trà trộn với thức ăn và giúp cơ thể nhũ hóa các chất béo. Khả năng sản xuất chất mật của người bị chai gan sẽ từ từ giảm dần gây ra trở ngại trong vấn đề hấp thụ chất mỡ và chất béo. Vì thế, họ sẽ dần dần mất ký rồi trở nên thiếu dinh dưỡng cũng như thiếu những vitamins tan-trong-mỡ như vitamin A, D, E, K. Khi thiếu vitamin K, họ sẽ dễ bị chảy máu hơn.

Tóm lại, gan đóng nhiều vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sức khỏe của chúng ta. Gan được so sánh như người lính dũng cảm, canh gác những tiền đồn, giao tranh và phân giải tất cả các hóa tố đến từ hệ thống tiêu hóa, cũng như những cặn bã từ những hệ thống khác "lang thang" trong máu. Vì thế, một trong những nhiệm vụ chính của gan là thanh lọc độc tố. Tuy nhiên, vì không hoàn toàn là một "bộ phận siêu Việt" (super organ), gan cũng có thể bị tàn phá bởi độc tố, vi trùng, vi khuẩn và nhiều bệnh tật khác nhau. May mắn thay, với khả năng tự tái tạo, trong đa số trường hợp viêm gan kinh niên (còn được gọi là mãn tính), gan vẫn tiếp tục hoạt động một cách tương đối bình thường trong một thời gian lâu dài.

Mega3 Sưu tấm!

Hiện nay, Silymarin   được chiết xuất từ kế sữa ( Cúc gai) là thảo được biết đến bảo vệ gan và phục hồi hư tổn gan hữu hiệu nhất.

Sản phẩm khuyên dùng cho bệnh gan, giải độc, hồi phục chức năng LIVEREX  . 

LIVEREX Bổ gan , gan nhiễm , mỡ lợi mật

Thành phần  Liverex: 

Milk Thistle Extract     1000 mg
Đóng gói:  90  viên nang/ chai

Cơ chế tác dụng  Liverex:

Viêm gan là tình trạng tế bào gan bị viêm, bị hư hoại và chết đi. Viêm gan có thể do nhiễm độc (do sử dụng thuốc lâu dài, do nghiện rượu) nhưng nguyên nhân thường gặp nhất là viêm gan do Virus ( A, B và C). Khi xét nghiệm thấy men gan ALT và AST tăng lên thì đó là dấu hiệu cho biết tình trạng có viêm, tổn thương gan. Trong thời gian điều trị viêm gan, nếu các men gan giảm xuống đến mức bình thường thì xem như tình trạng bệnh được cải thiện.
Từ lâu, một dược thảo đã được sử dụng từ phương Tây để bảo vệ gan và hỗ trợ chức năng gan trong điều trị viêm gan. Đó là cây Kế sữa còn gọi là Cúc gai (tiếng anh là Milk Thistle) có tên khoa học gọi là Silybum marianum. Hoạt chất có trong dược thảo có tác dụng bảo vệ gan được xác định là Silymarin. 
Thuốc tây y đã dùng Silymarin khá lâu đời . Cấu trúc hóa học của Silymarin đã được các nhà khoa học phương tây xác định từ những năm 1960, gồm 3 chất chính: silibinin, silydianine và silychristine. Cho tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh Silymarin giúp bảo vệ gan và hỗ trợ chức năng gan trong điều trị viêm gan là do có 4 tác dụng đã được chứng minh sau đây (theo Clin Drug Invest 2002:22(1):51-65).

  • Silymarin là chất chống oxy hóa có thể vô hiệu hóa gốc tự do gây hại: Là một flavonoid nên Silymarin có thể vô hiệu hóa các gốc tự do (như lipoperoxid) là các chất sinh ra nhiều khi gan bị viêm, bị tổn thương.
  • Silymarin giúp ổn định màng tế bào gan và ngăn chặn chất độc từ ngoài nhiễm vào trong tế bào gan: Đây chính là cơ chế giải độc gan của Silymarin. Silymarin có tác dụng bảo vệ mô gan từ sự nhiễm độc do các chất gây độc ở gan như paracetamol, rượu, Ccl4…
  • Silymarin tăng cường tổng hợp RNA ribosom (ribosomal RNA synthesis), giúp sự tổng hợp protein nhằm thúc đẩy phục hồi các tế bào gan bị tổn thương và kích thích sự phát triển các tế bào gan mới.
  • Silymarin ức chế sự biến đổi gan thành tổ chức xơ, giảm sự hình thành các sợi collagen đưa đến xơ gan. 
  • Nhiều công trình thử nghiệm lâm sàng (tức thử trên người) đã được thực hiện chứng minh tác dụng bảo vệ gan của Silymarin trong hỗ trợ điều trị viêm gan cấp với liều dùng từ 400-1440 mg cao định chuẩn (standard extract) Silymarin mỗi ngày.
  • GNS Liverex chứa hàm lượng cao tinh khiết Silymarin Milk Thistle, được sản xuất trên công nghệ chiết xuất  tiên tiến của Mỹ.

Công dụng Liverex:

  • GNS Liverex Giúp giải độc gan, bảo vệ tế bào gan, giúp tăng cường chức năng gan.

Đối tượng sử dụng Liverex:

  • Dùng cho người mỡ máu cao, men gan cao, gan nhiễm mỡ, chức năng gan kém với các biểu hiện vàng da, mẩn ngứa, nổi mày đay, nổi mụn nhọt, tiểu vàng; Người sử dụng rượu bia nhiều, tiếp xúc với hóa chất độc hại gây ảnh hưởng đến chức năng gan.
  • Viêm gan cấp, mãn tính, giúp phục hồi chức năng gan.
  • Nhiễm Virus viêm gan A, B,C, cản trở và kìm hãm sự phát triển virus,  phòng tránh ung thư gan.

4. Cách dùng Liverex  : 2 viên/ ngày.
5. Hạn sử dụng Liverex: 36 tháng kể từ ngày sản xuất, Ngày sản xuất và hạn sử dụng ghi trên bao bì sản phẩm.
6. Bảo quản  Liverex: Nơi khô ráo thoáng mát, hợp vệ sinh.
7. Xuất xứ  Liverex:  Mỹ

Viết bình luận của bạn:
Hotline: 0973978080